XuanHuongDaLat.comXuân Hương Đà Lạt
Lịch sử và tên gọi

Yersin lên cao nguyên Lang Biang năm 1893: chuyến đi mở đầu cho Đà Lạt

Năm 1893 bác sĩ Alexandre Yersin lên tới cao nguyên Lang Biang, mở đầu cho ý tưởng xây khu nghỉ dưỡng Đà Lạt. Chuyến đi, đề xuất và dấu ấn Yersin còn ở trung tâm.

Rolling grassy highland plateau with scattered pine trees under a wide cloudy sky, a lone traveler with a backpack seen from behind walking on a dirt trail

Năm 1893, bác sĩ Alexandre Yersin, người gốc Thụy Sĩ mang quốc tịch Pháp đang sống ở Nha Trang, dẫn một đoàn thám hiểm nhỏ lên tới cao nguyên Lang Biang. Theo các tài liệu thường dẫn, ông đặt chân lên cao nguyên vào ngày 21/6/1893. Vài năm sau, khi Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer tìm nơi lập khu nghỉ dưỡng cho người châu Âu, Yersin đề xuất vùng cao nguyên này, mở đường cho sự ra đời của Đà Lạt.

Người Đà Lạt vẫn gọi Yersin là người “khám phá” Đà Lạt. Cách gọi đó cần hiểu đúng: vùng đất đã có người K'Ho sinh sống từ lâu, Yersin là người châu Âu đầu tiên ghi chép kỹ về cao nguyên và là người đưa nó vào tầm nhìn của chính quyền thuộc địa. Tên ông nay có mặt khắp khu trung tâm, từ con đường, công viên đến ngôi trường cổ, phần lớn đều nằm trong địa bàn phường Xuân Hương-Đà Lạt.

Yersin là ai và vì sao ở Nha Trang

Alexandre Yersin sinh năm 1863 ở Thụy Sĩ, học y ở Thụy Sĩ, Đức và Pháp, làm việc tại Viện Pasteur Paris với Louis Pasteur và Émile Roux. Ông nhập quốc tịch Pháp, rồi bỏ con đường nghiên cứu ở Paris để sang Đông Dương làm bác sĩ trên tàu biển, trước khi chọn sống ở Nha Trang.

Ở Việt Nam, Yersin được nhớ đến nhiều nhất với hai việc. Năm 1894, tại Hồng Kông, ông phân lập được vi khuẩn gây bệnh dịch hạch, về sau được đặt theo tên ông. Và ông lập cơ sở nghiên cứu ở Nha Trang, tiền thân của Viện Pasteur Nha Trang, làm vắc xin, huyết thanh cho người và gia súc. Ông sống ở Nha Trang đến cuối đời, mất năm 1943 và được an táng ở Suối Dầu theo nguyện vọng.

Trước khi lên Lang Biang, Yersin đã thực hiện nhiều chuyến thám hiểm vùng núi phía tây Nha Trang, đi bộ, đi ngựa qua những vùng chưa có đường, ghi chép địa hình, dân cư, khí hậu. Những chuyến đi ấy vừa xuất phát từ tính tò mò khoa học, vừa gắn với nhu cầu của chính quyền thuộc địa muốn biết về vùng nội địa còn ít người châu Âu đặt chân tới.

Chuyến lên cao nguyên năm 1893

Đoàn của Yersin đi từ vùng duyên hải lên phía tây, vượt qua địa hình rừng núi hiểm trở, có người dẫn đường và phu khuân vác người địa phương. Khi lên tới vùng cao nguyên rộng, đồi cỏ thoải xen rừng thông, khí hậu mát lạnh khác hẳn vùng biển nóng ẩm, Yersin ghi nhận đây là vùng đất đặc biệt. Ngày 21/6/1893 là mốc được nhiều tài liệu nhắc khi nói về chuyến đi này, và chính quyền Đà Lạt từng chọn những dịp kỷ niệm tròn năm theo mốc này.

Cần nói rõ, ghi chép của Yersin mô tả cao nguyên Lang Biang nói chung, không phải đúng khu vực hồ Xuân Hương hay chợ Đà Lạt hôm nay. Thung lũng nơi về sau trở thành trung tâm đô thị khi ấy là vùng đồi cỏ, rừng thưa, suối và các buôn làng của người K'Ho. Đô thị chỉ thật sự hình thành vài chục năm sau, qua tay nhiều người khác.

Điều Yersin để lại là một nhận định có trọng lượng: một nhà khoa học được kính trọng xác nhận rằng cao nguyên này có khí hậu phù hợp cho người châu Âu hồi phục sức khoẻ. Với chính quyền thuộc địa lúc đó, khi bệnh sốt rét và các bệnh vùng nhiệt đới làm nhiều người Pháp ốm yếu, nhận định ấy đủ để biến một vùng núi xa thành một dự án.

Điều Yersin nhìn thấy trên cao nguyên

Thứ khiến Yersin chú ý trước hết là khí hậu. Vùng duyên hải Nha Trang nóng ẩm quanh năm, còn cao nguyên ở độ cao khoảng một nghìn năm trăm mét có không khí mát, đêm lạnh, ngày nắng nhẹ. Với một bác sĩ quen chứng kiến người châu Âu kiệt sức vì nóng và sốt rét, sự khác biệt này có ý nghĩa y học rõ ràng: một nơi có thể đưa người bệnh lên để hồi phục.

Thứ hai là địa hình. Cao nguyên không phải vùng núi dựng đứng mà là những dải đồi thoải nối nhau, xen thung lũng có suối, thông mọc thưa, cỏ phủ rộng. Địa hình như vậy cho phép làm đường, dựng nhà, mở vườn mà không phải san núi quá nhiều. Người đi sau sẽ thấy đúng điều đó khi nhìn khu trung tâm Đà Lạt hôm nay: các công trình nằm trên đỉnh và sườn đồi, thung lũng giữa thành hồ và vườn.

Thứ ba là đất và nước. Các con suối chảy quanh năm, đất đồi có thể trồng rau và cây ôn đới. Về sau, chính Yersin và nhiều người khác thử trồng các loài cây nhập nội trên cao nguyên. Nghề trồng rau, trồng hoa của Đà Lạt có nhiều nguồn gốc và nhiều thế hệ người góp công, nhưng nhận định ban đầu về tiềm năng nông nghiệp của vùng này là một phần trong ghi chép của các đoàn thám hiểm cuối thế kỷ XIX.

Những nhận định ấy được kiểm lại trong các đợt khảo sát tiếp theo, có đo đạc nhiệt độ, lượng mưa, độ cao. Không phải mọi kỳ vọng ban đầu đều đúng: mùa mưa ở Đà Lạt kéo dài và ẩm, sương mù dày, đường lên cao nguyên tốn kém hơn dự tính. Nhưng nhìn chung, lý do để chọn cao nguyên Lang Biang đứng vững, và đô thị vẫn giữ được vị thế nghỉ dưỡng hơn một thế kỷ sau.

Từ một đề xuất đến dự án khu nghỉ dưỡng

Paul Doumer làm Toàn quyền Đông Dương từ năm 1897. Ông muốn có một khu nghỉ dưỡng trên cao, nơi công chức và binh lính Pháp có thể nghỉ ngơi mà không phải về tận châu Âu. Yersin được hỏi ý kiến và đề xuất cao nguyên Lang Biang. Sau đó các đoàn khảo sát được cử lên để đo đạc, tìm đường, đánh giá khả năng xây dựng.

Những năm cuối thế kỷ XIX, chính quyền thuộc địa lập tỉnh Lang Biang với trung tâm ban đầu ở Dankia. Việc xây dựng diễn ra chậm vì đường sá khó khăn, chi phí lớn và có lúc dự án bị gác lại. Chỉ khi các tuyến đường bộ và về sau là đường sắt lên cao nguyên được mở, Đà Lạt mới lớn dần thành một đô thị thật sự.

Như vậy, nếu coi Yersin là “cha đẻ” của Đà Lạt thì nên hiểu là cha đẻ của ý tưởng. Những người biến ý tưởng thành đô thị là các viên chức, kỹ sư, kiến trúc sư, và trên hết là hàng nghìn người lao động Việt từ miền Trung, miền Bắc lên làm đường, xây nhà, mở vườn. Họ ít được ghi tên, nhưng các làng ấp người Việt quanh Đà Lạt là dấu vết của họ.

Dấu ấn Yersin ở khu trung tâm hôm nay

Sau năm 1975, nhiều tên đường thời trước ở Đà Lạt được đổi, nhưng tên Yersin được giữ lại, điều không phải người châu Âu nào cũng có. Dưới đây là những nơi mang tên hoặc gắn với ông trong và quanh phường Xuân Hương-Đà Lạt.

NơiVị trí tương đốiGhi chú
Đường YersinPhía đông hồ Xuân Hương, đi về hướng gaMột trong những trục chính khu phường 10 cũ
Công viên YersinBờ đông hồ Xuân HươngCó tượng bán thân Yersin, nơi người dân đi dạo, tập thể dục
Trường Yersin cũ (Lycée Yersin)Trên đồi phía đông hồTrường trung học Pháp lập từ thập niên 1920, nay thuộc ngành giáo dục
Viện Pasteur Đà LạtKhu phường 4 cũCơ sở nghiên cứu, sản xuất vắc xin theo truyền thống Pasteur mà Yersin theo đuổi

Tên công trình ghi ở đây là cách gọi phổ biến; công năng hiện tại có thể đổi theo thời gian. Phần kiến trúc của trường Yersin và các công trình khác được viết riêng ở mục kiến trúc và di sản.

Vì sao người Việt quý Yersin

Hiếm có người Pháp thời thuộc địa nào được người Việt tưởng nhớ như Yersin. Ở Nha Trang, ông được gọi thân mật là “ông Năm”, nhiều người dân vùng Suối Dầu lập nơi thờ ông như một ân nhân. Ông chữa bệnh không lấy tiền cho người nghèo, đưa giống cây cao su, cây canh-ki-na về trồng, nghiên cứu khí tượng, nông nghiệp để phục vụ cư dân địa phương.

Ở Đà Lạt, sự quý trọng thể hiện qua việc giữ tên ông cho đường, trường và công viên qua nhiều thời kỳ đổi tên. Các dịp kỷ niệm năm thành lập Đà Lạt thường gắn với mốc 1893 và hình ảnh Yersin. Học sinh Đà Lạt lớn lên với câu chuyện về chuyến thám hiểm ấy như một phần lịch sử địa phương.

Tuy vậy, nhìn lịch sử một cách đầy đủ cũng cần thấy chuyến đi của Yersin nằm trong bối cảnh mở rộng thuộc địa, và việc xây dựng Đà Lạt về sau đã thay đổi sâu sắc đời sống của người K'Ho bản địa. Tưởng nhớ Yersin không mâu thuẫn với việc ghi nhận phần lịch sử ấy; hai điều cùng đúng.

Đi theo dấu Yersin trong một buổi sáng

Với người muốn hiểu lịch sử Đà Lạt qua thực địa, một buổi sáng đi bộ ở bờ đông hồ Xuân Hương là đủ để chạm vào các dấu ấn Yersin. Bắt đầu từ công viên Yersin bên hồ, đi theo đường Yersin lên phía đồi, ngắm từ xa khối trường cũ với tháp chuông và mái ngói, rồi vòng xuống hướng ga Đà Lạt. Quãng đường không dài nhưng dốc, nên đi chậm và mang áo khoác vì sương sớm.

Khi đi, có thể để ý cách các công trình được đặt trên đỉnh đồi, nhìn xuống hồ, đúng với tinh thần quy hoạch thời Pháp là tận dụng địa hình để mỗi công trình có tầm nhìn riêng. Đây cũng là lý do khu vực quanh hồ được bảo vệ chặt về chiều cao xây dựng trong các quy hoạch sau này.

Nếu đi cùng trẻ nhỏ, có thể biến buổi dạo thành một trò chơi tìm dấu: tìm tượng Yersin trong công viên, đếm xem có bao nhiêu nơi mang tên ông, đoán xem con đường nào dẫn ra ga. Cách học lịch sử bằng đôi chân như vậy giúp các em nhớ lâu hơn một trang sách, và cũng giúp người lớn để ý đến những chi tiết thường bị bỏ qua khi chỉ chạy xe ngang qua bờ hồ.

Người muốn tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời Yersin nên ghé Nha Trang, nơi có bảo tàng về ông và khu mộ ở Suối Dầu. Ở Đà Lạt, tên ông là lời nhắc về khởi đầu của đô thị; ở Nha Trang mới là nơi ông sống và làm việc phần lớn cuộc đời.

Câu hỏi thường gặp

Yersin lên cao nguyên Lang Biang năm nào?

Theo các tài liệu thường dẫn, bác sĩ Alexandre Yersin lên tới cao nguyên Lang Biang trong chuyến thám hiểm năm 1893, mốc hay được nhắc là ngày 21/6/1893. Đây được coi là khởi đầu cho ý tưởng xây dựng khu nghỉ dưỡng mà về sau thành Đà Lạt.

Yersin có phải người lập ra Đà Lạt không?

Yersin là người đề xuất cao nguyên Lang Biang làm nơi nghỉ dưỡng, tức là người khởi xướng ý tưởng. Việc xây dựng đô thị do chính quyền thuộc địa tiến hành trong nhiều chục năm sau, với sức lao động của rất nhiều người Việt và người bản địa.

Ở Đà Lạt có những nơi nào mang tên Yersin?

Trong khu trung tâm có đường Yersin và công viên Yersin ở phía đông hồ Xuân Hương, trường Yersin cũ trên đồi gần đó. Viện Pasteur Đà Lạt cũng gắn với truyền thống nghiên cứu mà Yersin theo đuổi. Phần lớn các nơi này nằm trong phường Xuân Hương-Đà Lạt.

Mộ của Yersin ở đâu?

Yersin mất năm 1943 và được an táng tại Suối Dầu, thuộc vùng Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, theo nguyện vọng của ông. Ở Nha Trang còn có bảo tàng về cuộc đời và công trình của ông tại khuôn viên Viện Pasteur Nha Trang.

Vì sao tên Yersin không bị đổi sau năm 1975?

Yersin được người Việt kính trọng vì những đóng góp y học, nông nghiệp và lối sống gần gũi với người dân. Vì vậy nhiều nơi mang tên ông ở Đà Lạt và Nha Trang được giữ nguyên qua các đợt đổi tên đường phố, điều hiếm thấy với người Pháp thời thuộc địa.

Trước khi Yersin đến, vùng Đà Lạt có người ở không?

Có. Vùng cao nguyên là nơi sinh sống lâu đời của các nhóm người K'Ho như người Lạt, người Chil, sống thành buôn làng ven suối, làm rẫy và săn bắt. Tên Đà Lạt cũng bắt nguồn từ tiếng K'Ho. Yersin là người châu Âu ghi chép kỹ về vùng này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.