Biệt thự Pháp ở Đà Lạt là những căn nhà nghỉ và nhà ở dựng chủ yếu từ thập niên 1920 đến đầu thập niên 1950, khi người Pháp biến cao nguyên Lang Biang thành nơi nghỉ dưỡng. Chúng mang dáng nhà vùng núi và vùng quê nước Pháp: mái ngói rất dốc, ống khói xây nổi, chân tường ốp đá, cửa sổ nhỏ và nhiều ô kính, khung gỗ lộ ra ngoài mặt tường. Mỗi căn một kiểu vì chủ nhà tự chọn kiến trúc sư và tự chọn phong cách quê mình.
Phần lõi của lớp biệt thự này nằm ngay trong địa bàn phường Xuân Hương-Đà Lạt ngày nay, tức các phường 1, 2, 3, 4, 10 cũ: dọc đường Trần Hưng Đạo, quanh đồi Dinh II, đường Quang Trung về phía ga, quanh Dinh III và Viện Pasteur. Nhiều căn đã đổi chủ, đổi công năng, có căn sửa đến mức khó nhận ra.
Bài này giúp bạn đọc một căn biệt thự như đọc một văn bản: nó thuộc kiểu nào, vật liệu nào là gốc, chi tiết nào là thêm về sau, và vì sao căn nhà lại đứng ở vị trí đó trên sườn đồi.
Vì sao Đà Lạt có nhiều biệt thự đến vậy
Đà Lạt không lớn lên như một đô thị buôn bán hay một cảng biển. Sau khi Alexandre Yersin khảo sát cao nguyên Lang Biang năm 1893, chính quyền thuộc địa tìm ở đây một nơi tránh nóng cho viên chức và gia đình, giống các trạm nghỉ trên núi người Anh dựng ở Ấn Độ. Vì mục đích ấy, đơn vị nhà ở chủ đạo không phải dãy phố mà là căn nhà riêng có vườn, đặt rải trên các sườn đồi thông.
Các đồ án quy hoạch, nổi tiếng nhất là đồ án của kiến trúc sư Ernest Hébrard năm 1923, đều chia đất trung tâm thành lô rộng, khống chế mật độ và giữ những dải rừng thông xen giữa nhà. Cách chia lô ấy sinh ra cảnh quan mà người ta gọi là “thành phố trong rừng”: đứng ở bờ hồ Xuân Hương nhìn lên, chỉ thấy mái ngói đỏ lấp ló giữa tán thông chứ không thấy một mặt phố liền.
Thêm một lý do ít được nói tới: phần lớn chủ biệt thự là viên chức, sĩ quan, thương gia đến từ nhiều vùng khác nhau của nước Pháp. Họ muốn căn nhà nghỉ gợi lại quê mình, nên kiến trúc sư được yêu cầu vẽ nhà kiểu Normandie, kiểu xứ Basque, kiểu vùng núi Alpes hay kiểu Art Deco đang thịnh hành ở Paris. Kết quả là một bộ sưu tập phong cách hiếm thấy trong một đô thị nhỏ, và chính sự đa dạng này làm nên giá trị di sản.
Các phong cách thường gặp và dấu hiệu nhận biết
Một căn biệt thự thường pha nhiều phong cách, nhưng vẫn có nét trội. Bảng dưới gom những kiểu hay gặp trong khu trung tâm và dấu hiệu đọc được từ ngoài cổng:
| Phong cách | Dấu hiệu dễ thấy | Ghi chú khi quan sát |
|---|---|---|
| Nhà vùng Normandie | Khung gỗ lộ trên mặt tường trát, đầu hồi nhọn, mái ngói dốc nhiều mặt | Khung gỗ giả bằng sơn vẽ thường là chi tiết thêm về sau |
| Nhà xứ Basque | Mái hai mặt không đều, một mặt kéo dài xuống thấp, tường trắng, gỗ sơn màu đậm | Hay có ban công gỗ dưới đầu hồi |
| Nhà vùng núi (kiểu chalet) | Chân tường đá chẻ cao, mái dốc lớn, ống khói đá to, cửa sổ nhỏ | Hợp nhất với khí hậu lạnh ẩm, gặp nhiều nhất |
| Art Deco | Khối hình học, mái bằng hoặc mái thấp, mặt đứng đối xứng, cửa sổ băng ngang, góc bo tròn | Phổ biến ở công trình thập niên 1930 như Dinh III, ga Đà Lạt |
| Pha trộn bản địa hoá | Hiên rộng, mái hắt, cửa chớp gỗ, dùng ngói sản xuất trong nước | Thường là nhà của người Việt khá giả dựng sau |
Cách nhìn nhanh nhất là bắt đầu từ mái và chân tường. Mái rất dốc và chân tường đá gần như chắc chắn là kiểu nhà núi; khối vuông vức, mái thấp, góc bo là Art Deco. Những chi tiết trang trí ở giữa hai phần ấy hay bị thay đổi nhiều nhất qua các lần sửa nên kém tin cậy hơn.
Vật liệu gốc: thứ làm nên dáng biệt thự Đà Lạt
Đá chẻ địa phương. Chân tường, bậc tam cấp, trụ cổng và ống khói hay xây bằng đá granit chẻ lấy quanh vùng. Đá vừa chịu ẩm, vừa giữ nhiệt cho lò sưởi. Một căn nhà còn chân đá xám xếp mạch không đều thường là chân gốc; đá ốp mỏng, mạch thẳng tắp, màu đồng đều là dấu hiệu ốp lại về sau.
Ngói và độ dốc mái. Mái được làm dốc để nước mưa thoát nhanh trong mùa mưa kéo dài và để không đọng hơi ẩm. Nhiều căn dùng ngói móc đỏ hoặc ngói vảy, một số công trình lớn dùng tấm lợp đá đen. Khi mái bị thay bằng tôn hoặc ngói xi măng sơn màu, dáng mái vẫn còn nhưng độ dày và bóng đổ của mái thay đổi rõ.
Gỗ thông và gỗ cứng. Sàn, cầu thang, khung cửa, cửa chớp và kèo mái thường bằng gỗ. Gỗ thông tại chỗ dùng nhiều cho kết cấu phụ; khung cửa và sàn ở nhà khá giả dùng gỗ cứng. Cửa sổ chia nhiều ô kính nhỏ không chỉ để đẹp: ô nhỏ dễ thay khi vỡ và kính thời ấy khó làm tấm lớn.
Lò sưởi và ống khói. Gần như căn biệt thự gốc nào cũng có ít nhất một lò sưởi. Ống khói xây nổi lên khỏi mái là chi tiết dễ nhận nhất từ xa. Nhiều nhà bịt lò sưởi khi sửa, nhưng giữ ống khói vì nó gắn với dáng mái; ngược lại, ống khói “trang trí” trên nhà mới thường mỏng và không có đường thông xuống dưới.
Đọc vị trí: vì sao biệt thự đứng ở lưng chừng đồi
Người đi dạo hay để ý rằng biệt thự cổ hiếm khi nằm sát mặt đường. Chúng lùi vào, đứng trên một nền đất san phẳng ở lưng chừng sườn đồi, có lối xe vòng lên hoặc bậc đá dẫn từ cổng. Vị trí ấy có lý do: lưng chừng đồi tránh được gió mạnh trên đỉnh và hơi lạnh, sương đọng dưới thung lũng; mặt nhà quay về phía có nắng sáng và có tầm nhìn, thường là hướng hồ Xuân Hương hoặc thung lũng.
Quy hoạch thời Pháp cũng quy định khoảng lùi và mật độ xây dựng cho từng khu, nên một lô đất rộng chỉ có một căn nhà, phần còn lại là vườn và thông. Đó là lý do khu Trần Hưng Đạo, quanh Dinh II hay khu Dinh III vẫn giữ được cảm giác thưa thoáng dù nằm sát trung tâm.
Khi một lô biệt thự bị chia nhỏ để xây thêm nhà, thứ mất đầu tiên không phải căn biệt thự mà là khoảng vườn và hàng thông quanh nó. Căn nhà cũ còn đó nhưng bị kẹp giữa các khối mới cao hơn, mất tầm nhìn và mất luôn lý do nó được đặt ở vị trí ấy. Người nghiên cứu di sản Đà Lạt vì thế thường nói về “biệt thự và khuôn viên” như một đơn vị không tách rời.
Những chỗ hay bị sửa và cách phân biệt cũ, mới
Qua gần trăm năm, phần lớn biệt thự đã qua nhiều đời chủ và nhiều lần sửa. Khi quan sát hoặc khi tìm hiểu một căn nhà định thuê, định mua, những điểm sau giúp bạn phân biệt phần gốc với phần thêm:
- Cửa sổ nhôm kính thay cửa gỗ: dễ thấy nhất, làm mất các ô kính chia nhỏ và cửa chớp; khung gỗ cũ đôi khi còn nằm bên trong tường.
- Mái tôn hoặc ngói xi măng thay ngói đất nung: dáng mái giữ nguyên nhưng mép mái mỏng hơn, mất lớp rêu và độ sần đặc trưng.
- Tầng xây chồng thêm hoặc phần nhà nối dài ra phía sau: nhìn mặt bên thấy hai loại tường và hai cao độ mái khác nhau.
- Sơn phủ lên đá chẻ: làm đá mất màu xám tự nhiên, khó bóc lại; đá bị sơn thường là dấu hiệu nhà từng cho thuê làm cửa hàng.
- Ban công, lan can sắt hoa văn mới: lan can gốc thường đơn giản, bằng gỗ hoặc sắt thanh thẳng; hoa văn rườm rà, uốn cong kiểu mới là thêm sau.
- Sân vườn đổ bê tông làm bãi xe: mất lớp đất thấm nước, khiến chân tường đá ẩm hơn và nhanh xuống cấp.
Không phải mọi thay đổi đều xấu. Một số căn được thay ống nước, đi lại điện, chống thấm mái mà vẫn giữ nguyên hình dáng, đó là cách sửa đúng. Điều đáng lo là những thay đổi làm mất vĩnh viễn dáng nhà và khuôn viên.
Biệt thự và khí hậu: căn nhà được thiết kế để chống ẩm, giữ ấm
Khí hậu trung tâm Đà Lạt mát quanh năm, mùa mưa kéo dài và độ ẩm cao, sương mù dày vào sáng sớm. Một căn nhà làm theo kiểu vùng nhiệt đới, nhiều cửa và hiên trống, sẽ lạnh và ẩm suốt nửa năm. Kiến trúc sư thời ấy giải bài toán bằng vài nguyên tắc đơn giản: nền nhà nâng cao trên chân đá để hơi đất không ngấm lên sàn gỗ, có tầng hầm hoặc khoảng thông gió dưới sàn, tường dày giữ nhiệt, cửa sổ vừa phải để đón nắng mà không thất thoát hơi ấm.
Lò sưởi đặt ở phòng khách, có khi thêm ở phòng ngủ, ống khói đi xuyên mái để sưởi luôn phần tường xung quanh. Mái dốc lớn tạo một tầng áp mái, vừa làm lớp đệm cách nhiệt cho các phòng bên dưới, vừa thành phòng ngủ có cửa sổ mái nhô ra. Nhiều căn có hiên kính hoặc phòng kính nhỏ hướng nắng, nơi chủ nhà ngồi uống trà vào buổi sáng lạnh.
Hiểu những nguyên tắc ấy giúp người sửa nhà tránh sai lầm phổ biến: đổ bê tông kín tầng hầm, bịt khe thông gió, ốp gạch men lên tường đá. Những việc đó làm nhà bí hơi, ẩm mốc nặng hơn, và cuối cùng phải dùng máy hút ẩm, máy sưởi để bù lại những gì căn nhà gốc vốn tự làm được.
Đi xem biệt thự cổ trong phường thế nào cho có ý nghĩa
Nếu muốn nhìn được nhiều kiểu nhà trong một buổi, bạn có thể đi bộ theo trục đường Trần Hưng Đạo từ phía hồ lên, rẽ sang các nhánh nhỏ quanh đồi Dinh II, rồi men theo đường Quang Trung về ga Đà Lạt. Một vòng khác đi quanh khu Dinh III, đường Lê Hồng Phong và đường Pasteur. Đây là những khu còn mật độ biệt thự cũ cao trong phường; bạn nên đi vào buổi sáng khô ráo, lúc nắng nghiêng làm rõ khung gỗ và mạch đá.
Phần lớn biệt thự là nhà có người ở hoặc là cơ quan, khách sạn. Bạn chỉ nên quan sát từ vỉa hè, không trèo cổng, không tự ý bước vào khuôn viên để chụp ảnh. Những căn đang mở cửa đón khách như khách sạn, nhà hàng, quán cà phê thì có thể vào với tư cách khách, nhưng vẫn nên hỏi trước khi chụp bên trong.
Một thói quen nhỏ giúp chuyến đi có giá trị hơn là ghi chép theo bảng ở trên: mái kiểu gì, chân tường đá hay trát, cửa sổ gỗ hay nhôm, còn lò sưởi hay không. Sau vài căn, bạn sẽ thấy rõ phong cách nào phổ biến ở khu nào và căn nào còn nguyên vẹn nhất. Đó cũng là cách những người làm kiểm kê di sản bắt đầu công việc của họ.
Câu hỏi thường gặp
Đà Lạt có bao nhiêu biệt thự cổ thời Pháp?
Con số được nhắc trên báo chí thường ở mức hàng nghìn căn, nhưng mỗi nguồn đếm theo cách khác nhau: có nơi tính cả nhà đã sửa nhiều, có nơi chỉ tính căn còn giữ dáng gốc. Muốn số chính xác, nên tìm danh mục kiểm kê biệt thự do cơ quan quản lý xây dựng của tỉnh Lâm Đồng công bố, và để ý năm lập danh mục.
Biệt thự cổ ở phường Xuân Hương-Đà Lạt tập trung ở đâu?
Mật độ cao nằm dọc đường Trần Hưng Đạo và quanh đồi Dinh II, đường Quang Trung hướng về ga Đà Lạt, khu quanh Dinh III, đường Lê Hồng Phong và đường Pasteur. Ngoài ra còn rải rác ở các con dốc quanh hồ Xuân Hương và phía đường Trần Phú.
Làm sao biết một căn nhà có thật sự xây từ thời Pháp?
Nhìn tổng hợp các dấu hiệu: chân tường đá chẻ mạch không đều, ống khói có đường thông xuống lò sưởi, mái rất dốc, cửa gỗ chia ô nhỏ, cầu thang và sàn gỗ cũ. Hồ sơ nhà đất và giấy tờ gốc là bằng chứng chắc nhất; dáng nhà “kiểu Pháp” trên một căn mới xây không nói lên tuổi của nó.
Biệt thự Đà Lạt khác biệt thự Pháp ở Hà Nội hay TP.HCM thế nào?
Biệt thự ở Hà Nội và Sài Gòn thường cao trần, hiên rộng, nhiều cửa để thoát nóng. Ở Đà Lạt thì ngược lại: trần thấp hơn, cửa sổ nhỏ hơn, có lò sưởi, mái dốc lớn và chân tường đá giữ ấm. Kiểu nhà vùng núi gần như chỉ gặp ở Đà Lạt và một vài trạm nghỉ trên cao khác.
Khách du lịch có được vào xem bên trong biệt thự cổ không?
Chỉ những công trình mở cửa đón khách như Dinh III, khách sạn, nhà hàng hay quán cà phê đặt trong biệt thự. Phần lớn biệt thự còn lại là nhà riêng hoặc trụ sở cơ quan, bạn chỉ nên ngắm từ vỉa hè và không tự ý vào khuôn viên.
Vì sao nhiều biệt thự cổ bỏ hoang, xuống cấp?
Lý do thường đan vào nhau: vướng tranh chấp hoặc chờ xử lý quyền sở hữu, chi phí sửa đúng cách cao, quy định hạn chế cải tạo khiến chủ không muốn đầu tư, hoặc chủ chờ chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Căn nhà gỗ đá bỏ trống vài mùa mưa là mái dột, mục kèo rất nhanh.